Lưu huyết não là cách gọi quen thuộc cho việc thăm dò tuần hoàn máu não. Hiện nay phần lớn cơ sở thực hiện bằng siêu âm doppler xuyên sọ, viết tắt TCD, kỹ thuật đo tốc độ dòng máu trong các động mạch nội sọ để phát hiện hẹp, tắc, co thắt mạch và luồng thông phải sang trái.
Lưu huyết não là gì
Về mặt chữ nghĩa, lưu huyết não chỉ tình trạng lưu thông máu trong hệ mạch nuôi não. Trong thực hành, tên gọi này gắn với hai thế hệ kỹ thuật khác nhau.
Thế hệ trước dùng phương pháp ghi trở kháng, tên khoa học là rheoencephalography, đo biến thiên điện trở của đầu theo từng nhịp tim để suy ra thay đổi thể tích máu não. Kỹ thuật này đơn giản và rẻ, nhưng như các tác giả trên tạp chí PLoS One nhận định, nó chưa được dùng trong thực hành lâm sàng thường quy vì mối tương quan với tình trạng lâm sàng chưa được chứng minh đầy đủ.
Thế hệ đang dùng là siêu âm doppler xuyên sọ — TCD (transcranial Doppler — siêu âm doppler qua thành sọ). Kỹ thuật này đo trực tiếp tốc độ dòng máu trong từng động mạch nội sọ, có phổ tín hiệu để phân tích và có bộ chỉ định lâm sàng đã được kiểm chứng. Khi một phiếu chỉ định ghi "đo lưu huyết não", trong đa số trường hợp việc được thực hiện chính là siêu âm doppler xuyên sọ.
Siêu âm doppler xuyên sọ hoạt động thế nào
Xương sọ hấp thụ mạnh sóng siêu âm, nên kỹ thuật này dùng đầu dò tần số thấp và khai thác những vùng xương mỏng gọi là cửa sổ siêu âm. Ba cửa sổ được dùng thường xuyên là cửa sổ thái dương phía trên gò má, cửa sổ chẩm qua lỗ chẩm ở gáy và cửa sổ hốc mắt.
Qua các cửa sổ đó, kỹ thuật viên khảo sát động mạch não giữa, não trước, não sau, động mạch cảnh trong đoạn trong sọ, động mạch đốt sống và thân nền. Máy ghi lại tốc độ dòng máu theo chu chuyển tim và tính các đại lượng dẫn xuất, trong đó có chỉ số mạch đập phản ánh sức cản của giường mạch phía sau vị trí đo. Toàn bộ phép đo thực hiện tại giường, lặp lại được nhiều lần trong ngày và không dùng bức xạ ion hóa — đó là lý do kỹ thuật này được dùng nhiều trong hồi sức thần kinh.
Doppler xuyên sọ chẩn đoán và theo dõi bệnh gì
Các tổng quan y văn trên World Journal of Cardiology, Intensive Care Medicine và Journal of Cardiothoracic and Vascular Anesthesia liệt kê nhóm chỉ định sau.
| Tình huống lâm sàng | Thông tin kỹ thuật này cung cấp | Điều kỹ thuật này không làm được |
|---|---|---|
| Xuất huyết dưới nhện do vỡ phình mạch | Theo dõi co thắt mạch hằng ngày qua tốc độ dòng và tỷ số Lindegaard | Không xác định vị trí và hình thái túi phình |
| Nghi ngờ luồng thông phải sang trái, thường gặp là còn lỗ bầu dục | Đếm tín hiệu vi bọt khí và phân độ mức độ luồng thông | Không chỉ ra được vị trí giải phẫu của luồng thông |
| Hẹp hoặc tắc động mạch nội sọ | Tăng tốc độ dòng khu trú, biến đổi phổ tín hiệu tại vị trí hẹp | Không dựng được hình ảnh lòng mạch như chụp cắt lớp hay cộng hưởng từ mạch |
| Chấn thương sọ não và tăng áp lực nội sọ | Ước lượng gián tiếp qua chỉ số mạch đập và tốc độ dòng cuối tâm trương | Không thay thế phép đo áp lực nội sọ xâm lấn |
| Nghi ngờ ngừng tuần hoàn não | Phổ dao động qua lại hoặc chỉ còn đỉnh tâm thu nhọn ngắn | Là thăm dò hỗ trợ, không thay chẩn đoán lâm sàng chết não |
| Trẻ mắc bệnh hồng cầu hình liềm | Sàng lọc nguy cơ đột quỵ qua tốc độ dòng động mạch não giữa | Không dự báo được thời điểm xảy ra biến cố |
| Phẫu thuật bóc nội mạc động mạch cảnh, can thiệp tim mạch | Theo dõi tín hiệu vi tắc mạch và tuần hoàn bàng hệ trong lúc mổ | Không đánh giá được tổn thương nhu mô não |
Một nhóm ứng dụng khác ít được nhắc ở Việt Nam là thăm dò rối loạn thần kinh tự chủ. Bài tổng quan trên Clinical Autonomic Research mô tả cách dùng doppler xuyên sọ trong đánh giá ngất tái diễn, vì kỹ thuật này theo dõi được tốc độ dòng máu não theo thời gian thực khi người bệnh đổi tư thế.
Ai nên được chỉ định đo
Chỉ định thuộc về bác sĩ sau khi khám. Nhóm thường được cân nhắc gồm người có triệu chứng thần kinh khu trú thoáng qua, người đã có đột quỵ hoặc cơn thiếu máu não thoáng qua cần đánh giá mạch nội sọ, người bệnh nặng đang theo dõi tại hồi sức thần kinh, và trường hợp cần tìm luồng thông phải sang trái ở người đột quỵ trẻ tuổi không rõ nguyên nhân.
Cần nói thẳng một điều đang bị hiểu sai: đau đầu và chóng mặt đơn thuần không phải chỉ định mặc định của kỹ thuật này. Hai triệu chứng đó có rất nhiều nguyên nhân, phần lớn không nằm ở huyết động mạch nội sọ. Đo cho mọi người kêu đau đầu vừa tốn chi phí của người bệnh, vừa tạo ra những con số khó diễn giải.
Giới hạn của kỹ thuật
- Phụ thuộc cửa sổ siêu âm. Một tỷ lệ người có xương thái dương dày, tín hiệu kém hoặc không thu được.
- Phụ thuộc người thực hiện. Góc đặt đầu dò, độ sâu khảo sát và cách nhận diện mạch đều cần đào tạo và làm thường xuyên.
- Đo huyết động, không đo hình thái. Kết quả cho biết dòng máu chảy thế nào, không cho biết mạch máu trông ra sao.
- Phải đọc cùng bối cảnh lâm sàng. Tốc độ dòng thay đổi theo huyết áp, nồng độ khí carbonic trong máu, sốt và thiếu máu, nên một con số đơn lẻ không đủ để kết luận.
Thiết bị cho phòng thăm dò chức năng
Nhóm thiết bị phục vụ thăm dò tuần hoàn não được xếp trong danh mục máy đo lưu huyết não, trong đó có máy phân tích lưu lượng máu bằng siêu âm doppler xuyên sọ.
Khi chọn cấu hình, ba câu hỏi đáng đặt ra trước tiên: cơ sở cần khảo sát những động mạch nào, có làm nghiệm pháp phát hiện luồng thông phải sang trái hay không, và có nhu cầu theo dõi liên tục tại giường hồi sức hay không. Ba câu trả lời đó quyết định số kênh đo, loại đầu dò và bộ giá đỡ đi kèm nhiều hơn bất kỳ thông số nào khác. Thông số kỹ thuật chi tiết của từng model, vui lòng liên hệ 0942.337.117 để nhận catalogue kỹ thuật đầy đủ.
Câu hỏi thường gặp
Đo lưu huyết não và siêu âm doppler xuyên sọ có phải là một không?
Không hoàn toàn. Lưu huyết não là tên gọi quen thuộc cho việc thăm dò tuần hoàn máu não. Hiện nay phần lớn cơ sở thực hiện việc này bằng siêu âm doppler xuyên sọ.
Đau đầu và chóng mặt có cần đo doppler xuyên sọ không?
Không mặc định. Chỉ định do bác sĩ đưa ra sau khi khám. Đau đầu và chóng mặt có rất nhiều nguyên nhân, phần lớn không liên quan tới hẹp hay co thắt động mạch nội sọ.
Phép đo có xâm lấn hay có bức xạ không?
Không xâm lấn và không dùng bức xạ ion hóa. Kỹ thuật viên đặt đầu dò lên da vùng thái dương, sau gáy hoặc hốc mắt; người bệnh nằm hoặc ngồi yên trong suốt quá trình đo.
Vì sao có người không đo được qua cửa sổ thái dương?
Do độ dày và mật độ xương sọ vùng thái dương ở mỗi người mỗi khác, một tỷ lệ người có cửa sổ siêu âm kém hoặc không có. Khi đó kỹ thuật viên chuyển sang cửa sổ khác.
Kết quả doppler xuyên sọ có thay được chụp mạch không?
Không. Kỹ thuật này cho thông tin huyết động theo thời gian thực nhưng không dựng được hình ảnh giải phẫu mạch máu. Khi cần xác định tổn thương, bác sĩ vẫn chỉ định chụp mạch.
Kết luận
Lưu huyết não là tên gọi, siêu âm doppler xuyên sọ là kỹ thuật đang gánh phần lớn công việc thăm dò tuần hoàn não trong thực hành hiện nay. Giá trị của nó nằm ở chỗ đo được huyết động tại giường, lặp lại nhiều lần và không dùng bức xạ; giới hạn của nó nằm ở cửa sổ siêu âm, tay nghề người đo và việc không dựng được hình ảnh mạch máu.
Cơ sở đang cân nhắc trang bị nhóm thiết bị này, vui lòng liên hệ 0942.337.117 hoặc 0981.455.977 để được tư vấn cấu hình theo danh mục kỹ thuật đã đăng ký.
Tài liệu tham khảo
- D'Andrea A và cộng sự. Transcranial Doppler ultrasonography: from methodology to major clinical applications. World J Cardiol. 2016;8(7):383-400 — bản tóm tắt trên PubMed.
- Robba C và cộng sự. Brain ultrasonography: methodology, basic and advanced principles and clinical applications. Intensive Care Med. 2019;45(7):913-927 — bản tóm tắt trên PubMed.
- Rasulo FA, Bertuetti R. Transcranial Doppler and optic nerve sonography. J Cardiothorac Vasc Anesth. 2019;33 Suppl 1:S38-S52 — bản tóm tắt trên PubMed.
- Norcliffe-Kaufmann L và cộng sự. Transcranial Doppler in autonomic testing: standards and clinical applications. Clin Auton Res. 2018;28(2):187-202 — bản tóm tắt trên PubMed.
- González C và cộng sự. Poincaré plot analysis of cerebral blood flow signals. PLoS One. 2018;13(12) — bản tóm tắt trên PubMed.
